SSI: Thanh khoản ngân hàng trở lại trạng thái dư thừa, tạo các kỷ lục mới

Cập nhật 20/07/2018 - 03:48
"Trong khi thị trường chứng khoán cơ sở giao dịch ảm đạm, chứng khoán phái sinh tiếp tục lên ngôi và thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư, thì thanh khoản thị trường liên tục bứt phá tạo các kỷ lục mới", Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) công bố.

Thanh khoản ngân hàng trở lại trạng thái dư thừa

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã dồi dào rõ rệt trong tháng 6 khiến NHNN phát hành một lượng tín phiếu rất lớn để hút tiền ra khỏi hệ thống. Tổng khối lượng tiền hút ròng trong 3 tuần cuối tháng 6 lên tới 120 nghìn tỷ, đẩy lượng tín phiếu lưu hành tăng mạnh lên 150 nghìn tỷ, là mức cao nhất kể từ đầu năm. Sự chủ động của NHNN trong điều tiết thị trường được thấy rõ khi NHNN nâng lãi suất tín phiếu kỳ hạn 28 ngày từ mức 0.9% lên 1.25%, đồng thời NHNN cũng phát hành trở lại kỳ hạn 91 ngày sau 3 năm tạm ngưng.

Tăng trưởng tín dụng chậm là một nhân tố hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng. Theo ước tính của UBGSTCQG, tín dụng chỉ tăng khoảng 6.5% trong 6 tháng đầu năm, đây là mức tăng thấp nhất trong 4 năm gần đây (6T2015: 7.86%; 6T2016: 8.21%; 6T2017: 9.01%). Trong khi đó, tăng trưởng huy động đạt +8%, một phần nhờ lượng nội tệ được NHNN bơm ra khi mua vào 12 tỷ USD cho dự trữ ngoại hối.

Trong bối cảnh thanh khoản dồi dào, lãi suất liên ngân hàng đã giảm đáng kể từ 1.6% xuống 0.6% ở kỳ hạn qua đêm vào cuối tháng 6. Tuy nhiên, xu hướng này đảo ngược trong đầu tháng 7, khi lãi suất qua đêm tăng lên 1.1% vào giữa tháng. NHNN cũng bơm ròng trở lại 58 nghìn tỷ, làm khối lượng tín phiếu lưu hành giảm xuống mức 92.5 nghìn tỷ.

Lãi suất huy động trên thị trường 1 giảm khá sâu trong tháng 6, giao dịch ở mức 4.2% ở kỳ hạn 1M, 5.0% ở kỳ hạn 3M và 6.2% ở kỳ hạn 12M, giảm -20bps so với tháng 5. Sau khi chạm đáy vào cuối tháng 6, lãi suất đã tăng nhẹ trở lại vào đầu tháng 7.

Trên thị trường trái phiếu, xu hướng tăng lãi suất ngày càng thể hiện rõ rệt. Tính tới trung tuần tháng 7, lãi suất trúng thầu trái phiếu đã tăng thêm từ 30 – 50bps ở các kỳ hạn 5, 10 và 15 năm, đảo ngược xu hướng giảm kéo dài từ năm 2016. Tương tự, lãi suất trái phiếu thứ cấp cũng tăng mạnh, đặc biệt các kỳ hạn dài trên 7 năm đã tăng hơn 70bps từ mức đáy năm 2018. Các kỳ hạn ngắn 1-2 năm tăng khoảng 40bps, khiến đường cong lợi suất trái phiếu dốc hơn cho thấy kỳ vọng tăng lãi suất trong dài hạn ngày càng rõ nét.

 

Tỷ giá chấm dứt thời kỳ đi ngang

Tháng 6 và đầu tháng 7 đánh dấu chuỗi biến động mạnh của thị trường ngoại hối khi tỷ giá USD/VND tăng mạnh +150đ bật lên khỏi nền giá duy trì trong hơn một năm qua. Tỷ giá tiếp tục tăng thêm +100đ trong 2 tuần đầu tháng 7, tương đương mức tăng +1.1% chỉ trong vòng 1 tháng và giao dịch ở mức 23.010/23.080 trên thị trường ngân hàng. Tỷ giá tự do cũng chịu áp lực và tăng mạnh +360đ lên mức 23.180/23.230, đồng thời chênh lệch giá mua bán tăng từ 20đ lên 50đ.

Sức ép lên tỷ giá trong tháng 6 đến chủ yếu từ yếu tố bên ngoài kết hợp với tâm lý bên trong. Hàng loạt các đồng tiền trên thế giới đã mất giá nhanh trong tháng 6 do Mỹ chính thức áp thuế cao với hàng hóa Trung Quốc, làm dấy lên nguy cơ chiến tranh thương mại leo thang. Chỉ tính từ đầu tháng 6 đến nay, đồng CNY của Trung Quốc đã mất giá -4.5%, THB của Thailand mất giá -3.8% và đồng IDR của Indonesia mất giá -3.4%. Việc các đồng tiền mất giá tạo ra tâm lý đồng VND cũng sẽ phải mất giá khiến tỷ giá tăng.

Tuy nhiên, nếu phân tích từ khía cạnh cung cầu ngoại tệ, thực tế cho thấy tình trạng mất cân đối cung cầu chưa lớn để đẩy tỷ giá tăng mạnh. Xuất siêu đã trở lại trong tháng 6 với giá trị 800 triệu USD, nâng tổng giá trị xuất siêu từ đầu năm lên 3.74 tỷ USD hỗ trợ tích cực cho tỷ giá. Cán cân tổng thể đạt thặng dư 9.577 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, tăng mạnh so với 2.5 tỷ USD cùng kỳ năm 2017.

Ngoài yếu tố tâm lý kể trên, tỷ giá tăng cũng xuất phát từ biến động trong giao dịch liên ngân hàng. Lãi suất USD trên thị trường liên ngân hàng tăng từ 1.7% lên sát 2% ở kỳ hạn qua đêm, trong khi lãi suất VND giảm mạnh nới rộng chênh lệch lãi suất USD-VND từ 0.2% lên 1.2%. Động thái hút thanh khoản VND bằng tín phiếu của NHNN trong thời gian qua phần nào cũng giúp thu hẹp nguồn cung nội tệ, từ đó hỗ trợ tỷ giá.

Với nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào, xấp xỉ 65 tỷ USD, tương đương 15 tuần nhập khẩu, NHNN đã chủ động phát tín hiệu sẽ can thiệp hỗ trợ thị trường để hỗ trợ tỷ giá. Thực tế, NHNN đã giảm mạnh tỷ giá bán ra USD từ 23.294đ xuống 23.050đ vào ngày 3/7.

Về lập luận về việc càn giảm giá VND để hỗ trợ xuất khẩu, chúng tôi cho rằng cần có một cái nhìn dài và tổng thể hơn. Thứ nhất, các đồng tiền trong khu vực dù mất giá nhanh hơn VND trong 1 tháng qua nhưng lại lên giá khá nhiều so với VND trong khoảng thời gian 1 năm. Điều này có nghĩa xuất khẩu Việt nam đã được hưởng lợi trong một thời gian dài. Thứ 2, lượng vay nợ ngoại tệ của Việt nam là rất lớn nên cái lợi từ xuất khẩu cần phải cân đối với cái hại của áp lực trả nợ nước ngoài.

Bắt đầu từ tháng 7, song song với giảm giá bán, NHNN cũng cho tỷ giá tham chiếu gần như đi ngang, tạo tín hiệu rõ rệt với thị trường về chủ trương không tiếp tục điều chỉnh tỷ giá. Cùng thời gian này tỷ giá NHTM cũng đi ngang và chỉ có tỷ giá tự do còn ở mức cao.

Năm 2015 và 2016 khi tỷ giá nổi sóng, tỷ giá tự do cũng tăng cao nhưng sau đó giảm trở lại và đi cùng quỹ đạo của tỷ giá NHTM. Trong thời gian tới nếu áp lực tiếp tục gia tăng, NHNN có thể sẽ bán ra dự trữ ngoại hối để bình ổn thị trường. Cam kết ổn định tỷ giá của NHNN với nguồn lực dự trữ ngoại hối dồi dào và cung cầu ngoại tệ cân bằng là các yếu tố hỗ trợ ổn định tỷ giá.

 

 

Thị trường chứng khoán đã đủ hấp dẫn?

Thị trường chứng khoán tháng 6 và đầu tháng 7 tiếp tục nối dài xu hướng giảm tạo ra chuỗi giảm mạnh nhất trong nhiều năm. Sau khi chạm ngưỡng hỗ trợ mạnh 920-930 và phục hồi nhẹ vào đầu tháng 6, chỉ số Vn-Index tiếp tục giảm sâu phá vỡ ngưỡng 900 điểm, về mức thấp nhất là 893.16 điểm vào phiên ngày 11/7, giảm -25.8% so với mức đỉnh 1204 và giảm -9.3% so với cuối năm 2017.

Khối lượng giao dịch không được cải thiện, kết hợp với tâm lý của nhà đầu tư bị tác động tiêu cực bởi các sự kiện trên thị trường quốc tế như FED tăng lãi suất, căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và các đối tác leo thang khiến cho chỉ số thị trường chưa thể thoát khỏi xu hướng giảm.

Thị trường trong nước thiếu vắng thông tin hỗ trợ trong khi MSCI chưa xem xét nâng hạng đối với thị trường Việt Nam khiến cho nhà đầu tư rụt rè trong việc giải ngân, điều này đã được phản ánh qua số liệu thanh khoản thị trường tháng 6. Giá trị giao dịch bình quân hai sàn trong tháng 6 chỉ đạt 5.623 tỷ và tiếp tục giảm xuống 3.911 tỷ đồng trong 2 tuần đầu tháng 7, mức thấp nhất trong 17 tháng.

Tháng 6 cũng là tháng thứ 5 liên tiếp nhà đầu tư nước ngoài duy trì đà bán ròng trên thị trường khớp lệnh, tuy nhiên quy mô bán ròng đã giảm đáng kể so với 2 tháng trước xuống mức 1.800 tỷ đồng. Nếu tính cả giao dịch thỏa thuận thì khối ngoại tiếp tục mua ròng nhẹ 201 tỷ đồng trong tháng. Thị trường tiếp tục bị bán ròng 1.557 tỷ đồng khớp lệnh trong hai tuần đầu tháng 7 và chỉ mua ròng 117 tỷ đồng thỏa thuận.

Tính chung từ đầu năm, tổng giá trị mua ròng của khối ngoại là 33.876 tỷ đồng, trong đó khối này mua ròng qua kênh thỏa thuận với giá trị 44.558 tỷ đồng nhưng bán ròng 10.681 tỷ đồng khớp lệnh tạo áp lực rất lớn lên tâm lý thị trường.

Hiện tại định giá P/E của thị trường đã giảm xuống 17.2x, tương đương thời điểm trước sóng tăng mạnh kéo dài 6 tháng từ tháng 10/2017. Tuy nhiên, mức định giá này vẫn khá cao so với lịch sử 5 năm gần đây. Trong giai đoạn từ 2012-2017, P/E của VN-Index dao động trong khoảng từ 10.3x – 17.4x, với mức trung bình ở 13.8x.

Định giá của thị trường Việt Nam cũng chưa rẻ hơn nhiều so với các thị trường trong khu vực. Không chỉ chứng khoán Việt Nam, trong năm 2018 thị trường chứng khoán Trung Quốc và Thái Lan cũng lao dốc với mức giảm -23% và -13%, đưa P/E của các thị trường này xuống 13.7x và 16.5x. Thị trường Việt Nam đang giao dịch ở định giá tương đương với Malaysia (17.7x) và thấp hơn thị trường Indonesia (20.6x) và Philippines (18.9x).

Tâm điểm thị trường phái sinh

Trong khi thị trường chứng khoán cơ sở giao dịch ảm đạm, chứng khoán phái sinh tiếp tục lên ngôi và thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư. Thanh khoản thị trường liên tục bứt phá tạo các kỷ lục mới khối lượng 164.872 HĐ trong phiên ngày 6/7, tương đương 14.705 tỷ đồng, gấp 3 lần giao dịch trên thị trường cơ sở.

Thị trường phái sinh phát huy lợi thế giúp nhà đầu tư tận dụng được xu hướng giá xuống và giao dịch trong ngày T+0. Thanh khoản thị trường phái sinh tăng là hệ quả của sự thiếu cơ hội đầu tư trên thị trường cơ sở.

Thị trường phái sinh có hút vốn từ thị trường cơ sở?

Mặc dù thanh khoản gia tăng, giao dịch trong ngày chiếm đại đa phần các giao dịch phái sinh. Khối lượng giao dịch trong ngày gấp khoảng 10 lần khối lượng mở (OI) cuối ngày. Đây cũng là điểm khác biệt rất lớn giữa thị trường Việt Nam và các thị trường phát triển, nơi khối lượng giao dịch là thiểu số so với khối lượng mở do xu hướng đầu tư mang tính dài hạn hơn.

Cùng với khối lượng giao dịch gia tăng, khối lượng mở cũng có sự cải thiện, tuy nhiên mức tăng không đáng kể. Trong khi KLGD bình quân phiên trong 1 tháng gần đây đã tăng gấp 3 lần mức độ giao dịch hồi đầu năm, từ 40.000 HĐ lên 130.000 HĐ/phiên, OI chỉ tăng nhẹ từ mức trung bình hơn 10.000 HĐ lên 14.000 HĐ trong tháng 7.

Bên cạnh đó, do giá trị một hợp đồng đã giảm đáng kể, tổng giá trị OI vẫn chỉ ở khoảng 1200 tỷ đồng, tăng nhẹ so với mức 1000 tỷ đồng trong những tháng đầu năm. Đây là tổng giá trị danh nghĩa của các hợp đồng tương lai đang giao dịch, giá trị thực tế của dòng vốn đầu tư vào thị trường nhỏ hơn do hiệu ứng đòn bẩy phái sinh.

Giá trị này không đáng kể so với lượng tài sản trên thị trường cơ sở và thực tế cũng tăng không nhiều khi thị trường cơ sở lao dốc. Do đó, không có đủ cơ sở để cho rằng thị trường phái sinh đã thu hút vốn từ thị trường chứng khoán cơ sở.

Điều chỉnh tỷ lệ ký quỹ ảnh hưởng như thế nào đến thị trường phái sinh?

Từ ngày 18/7, tỷ lệ ký quỹ ban đầu được VSD nâng từ mức 10% lên 13% nhằm giảm thiểu rủi ro trên thị trường phái sinh. Việc nâng tỷ lệ ký quỹ ban đầu đồng nghĩa với việc cắt giảm tỷ lệ đòn bẩy đối với nhà đầu tư phái sinh. Tỷ lệ ký quỹ thực tế sau khi tính toán cộng thêm các ngưỡng sử dụng tài khoản cho phép và biên độ dao động giá sẽ cao hơn tỷ lệ ký quỹ thông báo. Với tỷ lệ ký quỹ 10% như trước đây, thì tỷ lệ ký quỹ thực tế tối thiểu các công ty chứng khoán có thể áp dụng là 12.5%, tương đương tỷ lệ đòn bẩy là 1:8. Với tỷ lệ ký quỹ mới áp dụng là 13%, tỷ lệ ký quỹ thực tế cũng phải nâng lên tương ứng trên 16% để đảm bảo cho các CTCK không vi phạm quy chế của VSD, tương đương tỷ lệ đòn bẩy giảm xuống 1:6.

Mặc dù tỷ lệ đòn bẩy giảm, các lợi thế về giao dịch T+0 và bán trước mua sau trong xu thế giá xuống vẫn là lợi thế quan trọng của các hợp đồng tương lai. Việc tăng tỷ lệ ký quỹ sẽ dẫn đến một số tài khoản bị gọi bổ sung ký quỹ. Tuy nhiên nhà đầu tư có thể lựa chọn bổ sung ký quỹ để duy trì số lượng hợp đồng đang nắm giữ, hoặc đóng bớt vị thế hợp đồng mà không cần phải bổ sung tiền. Do đó, quyết định nâng tỷ lệ ký quỹ có thể không tác động nhiều tới dòng tiền trên thị trường phái sinh cũng như thị trường cơ sở.

Việc thay đổi tỷ lệ ký quỹ không phải hiếm trên thế giới. Đây là công cụ để các sở giao dịch điều tiết thị trường bằng cách điều chỉnh linh hoạt tỷ lệ này phù hợp với diễn biến thị trường và mức độ rủi ro hiện hữu. Cụ thể, họ có thể nâng tỷ lệ ký quỹ khi nhận thấy rủi ro thị trường đang có xu hướng gia tăng và giảm tỷ lệ ký quỹ khi rủi ro giảm bớt.

Trong năm 2011, khi giá Bạc tăng lên sát ngưỡng 50 USD/oz, rủi ro tăng mạnh cùng với mức độ biến động giá lớn, sàn giao dịch tương lai lớn nhất thế giới CME Group đã nâng tỷ lệ ký quỹ 11 lần trong năm. Cũng trong thời gian đó, thị trường Đồng đi ngang khá ổn định, rủi ro với các hợp đồng tương lai không đáng kể khiến sở giao dịch giảm tỷ lệ ký quỹ 2 lần trong cùng thời kỳ.

Như vậy cần lưu ý 2 điểm về việc tăng tỷ lệ ký quỹ với giao dịch phái sinh. Thứ nhất, đó là cần tăng tỷ lệ ký quỹ khi nhận thấy rủi ro thị trường tăng. Rủi ro ở đây phải hiểu là rủi ro liên quan đến biến động giá chứ không phải xu hướng giá. Thước đo rủi ro vì vậy không phải là mức tăng giảm giá mà là độ lệch chuẩn (standard deviation). Ngay cả khi thị trường tăng, nhưng mức biến động giá lớn thì việc tăng tỷ lệ kỹ quỹ cũng có thể thực hiện để giảm thiểu việc chạm ngưỡng cảnh báo hoặc thua lỗ lớn cho nhà đầu tư.

Thứ 2, tỷ lệ ký quỹ không chỉ có một chiều tăng mà có tăng và có giảm. Khi biến động thị trường giảm bớt, cụ thể độ lệch chuẩn giảm thì cũng cần giảm tỷ lệ ký quỹ để tăng tỷ lệ đòn bẩy, từ đó tăng khả năng sinh lời và hấp dẫn với nhà đầu tư.

 (Nguồn: Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - SSI)

 

 

 

* Nội dung được thực hiện theo ĐKKD của C.A.M Media.